Điều kiện bảo hộ quyền tác giả. Các
sản phẩm trí tuệ được chia thành nhiều loại tương ứng với đó là các quyền riêng
biệt, trong đó đối với các tác phẩm do mình tạo ra, các cá nhân, tổ chức được
trao quyền tác giả đối với tác phẩm đó. Loại quyền này được dùng để bảo vệ các
sáng tạo tinh thần trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng
bất kỳ phương tiện hay hình thức nào như: các tác phẩm văn học, tranh vẽ, ảnh,
sáng tác nhạc, phim ảnh.
Chủ
thể sở hữu loại quyền này sẽ được bảo hộ các lợi ích về nhân thân và kinh tế đối
với các tác phẩm do mình sáng tạo ra. Khác với các loại quyền khác, quyền tác
giả sẽ đương nhiên được hình thành ngay sau khi tác phẩm được định hình dưới dạng
một hình thái vật chất nhất định. Tuy nhiên, để được bảo hộ quyền tác giả theo
qu.y định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, cần phải đảm bảo được những điều kiện
nhất định bao gồm
Thứ nhất, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả phải là các chủ thể sau: họ phải
là người sáng tạo ra tác phẩm hoặc được xác định là chủ sở hữu quyền tác giả
theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Theo đó, chủ sở hữu quyền tác giả
có thể là tác giả, đồng tác giả, tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho các tác giả
hoặc giao kết hợp đồng với tác giả, là người thừa kế hoặc được chuyển giao quyền
tác giả hoặc có thể là Nhà nước. Trong đó, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được
xác định là các tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài, có
tác phẩm lần đầu tiên được công bố tại Việt Nam mà chưa được công bố tại nước
khác, hoặc trong trường hợp tác phẩm đã được công bố tại các nước khác những đã
được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tác phẩm
được công bố lần đầu tiên tại các nước khác. Quyền tác giả của các tổ chức, cá
nhân nước ngoài sẽ được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác
giả mà Việt Nam là thành viên.
Thứ hai, tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả phải thuộc danh mục các loại hình tác phẩm theo quy định của pháp luật.
Không phải tất cả các sản phẩm từ sáng tạo tinh thần đều được bảo hộ mà chỉ có
những loại hình tác phẩm được pháp luật thừa nhận mới là đối tượng bảo hộ của
quyền tác giả. Bao gồm: Các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật như: Tác
phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện
dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
Tác phẩm báo chí; Tác phẩm âm nhạc; Tác phẩm sân khấu; Tác phẩm điện ảnh và tác
phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự; Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;
Tác phẩm nhiếp ảnh; Tác phẩm kiến trúc, bản họa đồ, sơ đồ, bản vẽ liên quan đến
địa hình, công trình khoa học; Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; Chương
trình máy tính, sưu tập dữ liệu.
Các tác phẩm nói trên sau khi được
dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, được phỏng tác, cải biên, chuyển thể,
biên soạn, chú giải, tuyển chọn để sẽ trở thành một tác phẩm mới và tác phẩm mới
được được tạo thành này được gọi là các tác phẩm phái sinh và sẽ được bảo hộ
quyền tác giả nếu việc bảo hộ này không làm phương hại đến quyền tác giả của
các tác phẩm gốc mà từ đó tác phẩm phái sinh được tạo thành.
Các tác phẩm, dù là tác phẩm phái
sinh thì để được bảo hộ thì phải do tác giả trực tiếp sáng tạo ra bằng lao động
trí tuệ của mình chứ không phải sao chép từ sản phẩm của người khác
Bên cạnh việc quy định các tác phẩm
thuộc phạm vi bảo hộ của quyền tác giả, Luật sở hữu trí tuệ cũng quy định rõ
các đối tượng mặc dù cũng là sản phẩm của hoạt động sáng tạo nhưng không thuộc phạm vi này, bao gồm: tin tức thời
sự thuần túy; Văn bản quy phạm pháp luật,
văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp hoặc văn bản dịch chính
thức của văn bản đó; Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm,
nguyên lý, số liệu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét